tinthoitrangcongnghe

Sinh tố không chỉ tốt cho người lớn mà còn rất tốt cho trẻ nhỏ. Hầu hết trẻ em đều thích sinh tố và đó là một trong những cách tốt nhất để cho trẻ ăn trái cây tươi và rau quả để đáp ứng các yêu cầu dinh dưỡng hàng ngày của trẻ. Chỉ đơn giản với chiếc máy xay sinh tố các bà mẹ có thể tạo ra những thức uống không chỉ tươi mới mà còn phong phú các enzym, vitamin, chất xơ, các khoáng chất thiết yếu cũng như đầy đủ các chất chống oxy hóa giúp chống lại quá trình oxy hóa và xây dựng hệ thống miễn dịch của trẻ.

Sinh tố chuối, đu đủ

Món sinh tố này rất dễ thực hiện, chắc chắn trẻ sẽ thích. Một cốc sinh tố chuối, đu đủ sẽ cung cấp rất nhiều các chất dinh dưỡng trẻ cần: Kali, các vi khuẩn có lợi, protein, các chất diệt khuẩn, các chất hỗ trợ tiêu hóa, các chất chống ô-xy hóa, chất béo omega-3 …

Chuẩn bị: 1 quả chuối xắt miếng, 1 miếng đu đủ xắt miếng, 1/2 chén sữa chua ít béo, 1/2 chén sữa, 1 thìa dầu hạt lanh, một thìa mật ong.

Cho tất cả vào máy xay nhuyễn.

Sinh tố chuối, dâu tây

Với sinh tố này, bạn đã cung cấp rất nhiều các chất dinh dưỡng, các enzyme và năng lượng cho cả một buổi sáng cho trẻ rồi.

Chuẩn bị: 1 quả chuối cỡ trung bình xắt mỏng, 1 chén dâu tây. Để thơm ngon hơn, bạn có thể cho thêm 1/2 chén đào tươi bỏ vỏ xắt mỏng, 1/2 chén sữa chua vani ít béo, 1 chén nước cam.

Cho tất cả vào xay nhuyễn và cho bé dùng.

Sinh tố khoai lang, dưa hoàng kim

Giàu dinh dưỡng, rất tốt cho bữa sáng của trẻ, chỉ một cốc sinh tố này sẽ giúp trẻ no lâu.

Chuẩn bị: 1 chén khoai lang hấp chín, bỏ vỏ, 1 ly nước ép dưa hoàng kim, 1 chén sữa chua ít béo, 1 thìa canh dầu hạt lanh.

Cho tất cả vào máy xay sinh tố và xay nhuyễn.

Sinh tố xoài, cà chua

Đảm bảo rằng bạn đã chọn cà chua chín để không có vị chua. Món sinh tố này không chỉ ngon mà còn giàu giá trị dinh dưỡng và cung cấp năng lượng cho trẻ.

Chuẩn bị: 1 quả cà chua chín, bỏ vỏ bỏ hạt, cắt miếng nhỏ, 1 chén xoài chín, 1/2 chén sữa chua, 1/2 chén sữa, 1 thìa dầu hạt lanh, một thìa mật ong.

Cho tất cả vào máy xay nhuyễn.

Sinh tố đu đủ, chanh

Chuẩn bị: Đu đủ chín nửa quả, chanh tươi nửa quả, chọn loại chanh vàng để vỏ đỡ bị đắng, mật ong, nước lọc.

Đu đủ gọt vỏ, bỏ hạt, cắt miếng, chanh rửa sạch, cắt vài lát ngang, gạt bỏ hạt còn lại vắt lấy nước cốt.

Đu đủ đã thái miếng, 2 – 3 lát chanh cả vỏ, nước cốt chanh, mật ong tùy khẩu vị, nước lọc, tất cả cho vào máy xay sinh tố. Ấn nút xay khoảng 20 giây. Các nguyên liệu nhuyễn mịn và hòa quyện với nhau, đổ ra cốc.

Sinh tố bí đỏ, sữa chua

Chuẩn bị: Bí đỏ hấp chín, để nguội rồi bỏ vào máy sinh tố xay cùng sữa chua.

Sinh tố bí đỏ, chuối

Chuẩn bị: 1 chén sữa chua, bí đỏ hấp chín, 1 quả chuối, một chút quế. Cho tất cả vào xay nhuyễn.

Sinh tố bí đỏ, cam, chuối

Chuẩn bị: Nước cam vắt, chuối chín thái mỏng, bí đỏ hấp chín.

Cho tất cả vào máy xay nhuyễn.

Sinh tố dâu tây

Sinh tố này rất giàu vitamin A, canxi, folate, magie.

Chuẩn bị: 1/2 cốc dâu tây rửa sạch và 1/4 cốc phô mai tươi/sữa chua xay nhuyễn.

Lưu ý: phô mai tươi không được quá chua. Nếu không muốn dùng phô mai tươi, bạn có thể tạo độ sánh cho sinh tố bằng cách cho các loại quả như xoài, chuối.

Sinh tố cà rốt, táo

Chuẩn bị: Cà rốt bỏ vỏ, thái mỏng, nước táo ép.

Luộc hoặc hấp chín cà rốt, để nguội. Cho cà rốt vào máy xay sinh tố, thêm nước táo, xay đến nhuyễn là được.

Sinh tố xoài

Rất giàu vitamin A, canxi, folate, magie.

Chuẩn bị: 1/2 chén xoài xắt lát, 1/4 chén phô mai tươi/sữa chua. Cho vào máy xay nhuyễn.

Sinh tố chuối

Chuẩn bị: 1/2 chén chuối chín xắt mỏng, 1 thìa sữa hoặc sữa chua, 2 thìa nước cam.

Cho tất cả vào máy xay nhuyễn là được.

Tất cả các nguyên liệu cho trẻ nên để ở nhiệt độ phòng. Nếu trẻ còn nhỏ (dưới 1 tuổi) bạn cũng nên cho một chút nước đun sôi để nguội vào, để trẻ ăn dễ dàng hơn.

Sinh tố bơ

Chuẩn bị: Bơ bỏ vỏ, bỏ hạt, cho một miếng phô mai partycube, một chút sữa ông thọ cho có vị thơm ngọt vào máy xay nhuyễn.

Có thể thay thế sữa ông thọ bằng một chút váng sữa hoặc sữa tươi, cũng rất tốt.

Sinh tố đào, táo, dâu tây

Chuẩn bị: 1/4 quả táo, 1/4 quả đào chín, 2 quả dâu tây, tất cả đều bỏ vỏ, bỏ hạt, xắt mỏng, (có thể cho thêm chút đường cho vừa miệng), xay nhuyễn.

Sinh tố hoa quả, sữa chua

Chuẩn bị: Sữa chua, chuối bỏ vỏ, xắt miếng, cam bỏ cùi trắng, quả anh đào (cherry), dâu tây, xay nhuyễn.

Lời khuyên

– Bạn nên luôn chọn hoa quả tươi mới và nên mua theo mùa. Không cho trẻ uống sinh tố để lâu quá 20 phút vì sẽ làm thay đổi hương vị và dễ nhiễm khuẩn.

– Một số những gợi ý khác về sự kết hợp để chế biến cho trẻ các món sinh tố thơm ngon, bổ dưỡng: Dâu tây và nước chanh, chuối và xoài, dâu tây, kiwi và cam, chuối và dứa, đu đủ, chuối và sữa đậu nành, cam, chuối và nho, chuối, táo và dâu tây…

Nhằm giúp các em có thêm thông tin tham khảo, Tour.edu.vn xin gửi đến một số bài văn mẫu lớp 9 được chọn lọc. Chúc các em học tốt!

Bài 1: Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương

Bao giờ cũng thế, một tác phảm đặc sắc phải bao gồm cái đặc sắc và thành công về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật. Tác phẩm ấy như một nguồn nước giếng trong, khơi mãi vẫn không hết cái ngọt ngào, lắng sâu của tình yêu con người, vẫn không cạn nguồn sức mạnh truyền vào trong cuộc sống. Bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là một tác phẩm như thế. Được sáng tác vào năm 1976, bài thơ mang đậm chất trữ tình này đã ghi lại tình cảm sâu lăng, thành kính cảu nhà thơ khi hoà vào dòng người viếng lăng Bác. Bài thơ cũng là tiếng nói, là nỗi niềm tâm sự của nhận dân Nam bộ và nhân dân cả nước dành cho Bác.

Mở đầu bài thơ là cảm xúc của tác giả khi vừa bước chân vào lăng. Nhà thơ xưng “con” và gọi “Bác”; lời thơ giản dị, mộc mạc mà chát chức bao tình cảm gần gũi, thân thương, kính trọng chủ tịch Hồ Chí Minh của ông. Điều đó càng cho thấy Bác là một con nguời rất hoà đồng và gần gũi. Chính vậy nhà thơ Tố hữ có viết “Người là Cha, là Bác, là Anh”. Chi tiết thơ “Con ở miền Nam” còn mang một sắc thái đầy xúc độgn. Khúc ruột miền Nam là miền đất xa xôi mà Bác không nguôi ngóng chờ, cho đến những ngày trước luc lâm chung thì trái tim ngươờ vẫn luôn huớng về mìen Nam ruột thịt. Nơi đó có biết bao đồng bào ta đang ngày đêm chiến đấu và anh dũng hy sinh vì một nàgy mai nước nhà thống nhất. Nhưng…Bác đã không chờ được đến ngày đó. Người đã ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng để lại muôn vàn niềm thương tiếc cho nhân dân ta. Câu thơ đầu gọn như một lời thông báo nhưng lại chứa chan bao tình cảm xúc độgn, bồi hồi của tác giả đối với vị cha già kính yêu của dân tộc.

Và trong cái mênh mang sương mù của mọt ngày mùa thu Hà Nội, qua con mắt thi nhân của Viễn Phương, ta chợt tìm thấy một “hàng tre” Việt Nam. Đến với Bác, đến với hàng tre, ta như đến với quê hương làng mạc, đến với mái nhà tranh âm vang lời ru của bà, của mẹ; đén với Bác là đến với dân tộc mình, thế mới đẹp làm sao! Hình ảnh nhân hoá hàng tre “bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” còn là biểu tượng bất diệt của con người VN kiên cường, bất khuất biền bỉ. Màu xanh của tre chính là màu xanh của sức sốg VN, màu xanh của hy vnọg, hạnh phúc và hoà bình. Đây quả là một tứ thơ độc đáo, giàu ý nghĩa tượng trưng:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàg”

Và nhà thơ phải kính yêu Bác lắm mới viết được những hình ảnh ẩn dụ tài tình này:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Cũng là “mặt trời” nhưng “mặt trời” ở câu thơ thứ nhất là mặt trời của thiên nhiên vũ trụ, ngày ngày tỏ sáng, đem sự sống cho muôn loài, vạn vật, nó cũng có lúc quạnh quẽo, u ám. Còn “mặt trời” của nhận dân VN. “mặt trời” trong lăng thì vẫn luôn chiếu ánh sáng vĩnh hằng, đỏ mãi. Bác chính là vầng mặt trời hồng toả tia sáng soi rọi con đừơng giúp dân tộc ta thoát khỏi kiếp đời nô lệ, là sức mạnh giúp nhân dân ta chèo lái con thuyền cách mạng cập bến vinh quang, đi đến bờ thắng lợi. Dù rằng đã ra đi mãi mãi nhưng Bác vẫn luôn bất tử, tư tưởng HCM vẫn luôn trường tồn, soi đường dẫn lối cho dân tộc ta đứng lên.

Hoà nhịp với gần trăm triệu bàn chân VN, hàng triệu bàn chân lao độgn trên thế giới, Viễn Phương bùi ngùi xúc động bước vào lăng:

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

Hình ảnh dòng người vào lăng viếng Bác được tác giả ví như nhưng trànghoa dâng lên người. “Bảy mươi chín” tràng hoa, ấy là bày mươi chín màu xuân, bày mươi chín năm cống hiến, hy sinh hết mình của Bác đối với dân tộc và nhân dân ta. Và quả thật, Bác chính là mùa xuân, và mùa xuân ấy đã làm cho cuộc đời người dân VN nở hoa. Điệp ngữ “ngày ngày” đứng mỗi ý thơ giữ vị trí “nhãn tự”, vừa thể hiện một qui luật trình tự của dòng người vào lăng viếng Bác, lại vừa thể hiện một qui luật tự nhiên của tạo hoá.

Đứng trước sự vĩ đại, to lớn của Bác, ta cũng vô thức bị dòng thơ cuốn và trong lăng lúc nào không hay:

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vãn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim”

Bác đang nằm đây, ngay trước mắt nhà thơ, hiền hậu, nhân từ như một vầng trăng “dịu hiền”, mát mẻ mà vãn trong sáng rạng ngời.Ta có cảm giác như Bác vẫn chưa đi xa, vẫn chưa rời khỏi thế gian này mà Người đang ngủ đấy thôi. Lí trí thì nói bác đang ngủ, nghĩa là Bác vẫn còn sống mãi với đất nước, với dân tộc ta như trời xanh còn mãi trên đầu. Mỗi ngày ngẩng đầu nhìn ta lại thấy trời xanh, lại thấy Bác. Bác không bao giờ mất, Bác sống mãi cùng dân tộc ta, trong mỗi cuộc đời, trong mỗi sự việc mà chúng ta làm vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội. Ta biết thế, ta nghĩ thế nhưng sao tim ta vẫn “đau nhói”, mắt ta vẫn trào dâng khi nhận ra rằng: Bác đã không còn nữa! Khổ thơ thứ hai và ba là một chuỗi các hình ảnh vũ trụ: mặt trời, vầng trăng, trời xanh lồng vào nhau như để ca ngời tầm vóc lớn lao của Bác; đồng thời thể hiện lòng tôn kíh vô hạn của tác giả, của nhân dân đối với vị cha già kính yêu của dân tộc.

Bài thơ bắt đầu bằng sự kiện “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” và cũng kết thúc bằng chi tiết “Mai về miền Nam”. Đây là giờ phút sắp chia tay với Bác, tâm trạgn nhà thơ tràn đầy niềm cảm thương xen lẫn bùi ngùi, lưu luyến. Điều đó được thể hiện qua hình ảnh cuờng điệu: “Thương trào nước mắt” :

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Múon làm đóa hoa toả hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

Tình thương xót nén giữa tam hồn đã làm nảy sinh bao ước muốn: “muốn là con chin” để dâng lên tiếng hót vui, “muốn là đoá hoa” dâng hương thơm ngát, “muốn làm cây tre trung hiếu” canh gác chi giấc ngủ yên lành của Bác. Nhịp điệu khổ thơ lúc này dồn dập với điệp ngữ “muốn làm” nhắc lại đến ba lần và các hình ảnh liên tiếp xuất hiện như một dòng khát khao mãnh liệt của nhà thơ muốn được gần Bác mãi mãi.

Bằng tất cả tình cảm chan thành, Viễn Phương đã làm “Viếng lăng Bác” trở thành một bản tình ca bất tận để lại ấn tượgn sâu sắc cho bao người dân Việt Nam. Bài thơ hay không chỉ vì các nghệ thuật, kĩ sảo độc đáo mà quan trọgn hơn, đó là sự kết hợp nhuẫn nhị giữa cái “tâm” của một nguời con yêu nước và cái “tài” của người nghệ sĩ. Rất nhiều năm tháng đã đi qua nhưng mỗi thế hệ đọclại “Viếng lăng Bác” đều đón nhận vào tâm hồn mình một ánh sáng tư tưởng, tình cảm của nhà thơ và đồng thời cũng thấm nhuần vẻ đẹp trong suốt, lấp lánh toả ra từ chính cuộc đời, trí tuệ và trái tim Bác Hồ.

 

Bài 2: Bếp lửa (Bằng Việt)

 

Bằng Việt thuộc thế hệ trưởng thành trong thòi kì kháng chiến chống Mĩ. Thơ Bằng Việt mượt mà, trong trẻo, khai thác những kỉ niệm và mơ ước của tuổi trẻ. Bài thơ “Bếp lửa” được bằng Việt sáng tác năm 1963, khi ấy tcá giả là ính viên đang du học tại Liên Xô. Bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, giữu tự sự và bình luận, bài thơ gợi lại những kỉ niệm về người bà và tình bà cháu vừa sâu sắc thấm thía, vừa rất quen thuộc với mọi người; đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọgn và biết ơn của ngừoi cháu đối với bà và cũng là đối với gia đinh, quê hương, đất nước.

Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm. Bài thơ mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi lại những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà làm hiện lên hình ảnh bà và tình yêu thương bà dành cho cháu, từ kỉ niệm tuổi thơ, người cháu suy ngẫm về cuộc đời bà và cuối cùng người cháu dửi niềm mong nhớ về bà.

Mở đầu bài thơ là sự hồi tưởng của tác giả về bà và tình bà cháu được khơi gợi qua hình ảnh bếp lửa:

“Một bếp lửa…….

………………biết mấy nắng mưa”

“Bếp lửa chờn vờn sương sớm” mà một hình ảnh rất quen thuộc trong mỗi gia đình từ muôn đời nay. Bếp lửa nồng đượcm ấy mang tình thương che chờ, “ấp iu” của bà. Từ láy “ấp iu” gợi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm lửa, lại rất chính xác với công việc nhóm bép cụ thể. Bếp lửa của bà là bếp lửa của một cuộc đời đã trải qua “biết mấy nắng mưa”, nghèo khổ, vất vả. Nghĩ về bếp lửa, nghĩ về bà mà người cháu thương bà khôn xiết.

Từ đó, bài thơ gợi lại cả một thời thơ ấu bên người bà. Tuổi thơ ấy có nhiều gian khổ, thiếu thống nhọc nhằn:

“Lên bốn tuổi…………………

…………sống mũi còn cay”

Đó là những năm tháng tuổi thơ có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945, có mối lo giặc đốt phá xóm làng: “giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi”, có những hoàn cảnh chung của các gia đình VN:

“Mẹ cùng cha công tác bận ko vè

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”

Trong chiến tranh, mẹ và cha bận công tác xa nhà, cháu sống trong sự cưu mang, dạy dỗ của bà. Các từ ngữ “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la, sự chăm chút của bà đối với đứa cháu nhỏ. “Bà” và “cháu” được điẹp lại bốn lần gợi tả tình bà cháu quán quýt yêu thương.

Được sống trong tình thương là hạnh phúc. Người cháu trong bài thơ tuy phải sóng xa cha mẹ nhưng em thật hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu thương, che chở của bà. Vì thế, cháu mới cảm nhận một cách nồng hậu:

“Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”

Đoạn thơ tiếp thao, 10 câu đã tô đậm thêm phẩm chất cao quí của ngưòi bà kính yêu:

“Năm giặc đốt làng ………..

………….dai dẳng”

Bà là chỗ dựa vững chắc cho cháu. Sống trong những năm dài chiến tranh, khi “giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi”, được sự “đỡ đàn” của bà con làng xóm, hai bà cháu “dựng lại túp lều tranh”; thế nhưng bà vẫn luôn vững lòng trước thử thách.

Từ “bếp lửa”, người cháu nghĩ về “ngọn lửa”. “Bếp lửa” bà nhen sớm sớm chiều chiều đã sứng bừng lên ngọn lửa bát diệt, ngọn lửa của tình yêu thương “luôn ủ sẵn”, ngọn lửa của niềm tin “dai dẵn”. Kỉ niệm về bà và những năm tháng tuôie thơ luôn gắn liền với hình ảnh bếo lửa. Bếplửa hiện diện như tình bà ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như sự cưu mang đầy chi chút của bà dành cho cháu.

Bếp lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu gợi một liên tưởng khác- tiếng chim tu hú:

“Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”

Tiếng chim quen thuọoc của đồng quê mỗi độ hè về, tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì đó da diết lắm, khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong.

Từ những kỉ niệm hồi tưởng về tuổi thơ và bà, người cháu suy ngẫm về cuộc đời bà:

“Lận đận đời bà…….

…………………..thói quen dậy sớm”

Cuộc đời của bà nhiều “lận đận”, trải qua nhiều “nắng mưa”, vất vả. Bà cần mẫn lo toan, chịu thương, chịu khó, thức khuya dậy sớm vì bát cơm manh áo của con cháu trong gia đình. Vần thơ chứa đựng bao nghĩa nặng tình sâu với lòng biết hơn, kính trọgn bà sâu sắc.

Bà đã nhóm bếp lửa suốt cuộc đời, đã trải qua mấy nắng mưa “mấy chục năm rồi”. Bà không chỉ nhóm bép lửa bằng đôi tay già nua, gầy gụôc mà bằng cả tấm lòng đôn hậu “ấp iu nòng đượm” của bà:

“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

….

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”

Điệp ngữ “nhóm đan kết với những chi tiết chân thực, biểu hiện một tấm lòng. Vị ngọt bùi của khoai sắn, hương vị ngọt ngào của nồi xôi gạo mới đều do bàn tay tần tảo của bà “nhóm” nên. Bà đã nhen nhóm, nuôi dưỡng trong lòng con cháu bao “niềm yêu thương”, bao ước mơ hoài bão. Tâm hồn và khát vọng của tuôit thơ đã sáng bừng lên từ ngọn lửa của bà. Cảm xúc dồn nén bỗng ùa ra, tuôn trào:

“Ôi kì lạ và thiên liên bếp lửa”

Bốn câu cuối kết thúc bài thơ thể hiện một cảnh đằm thắm. Đó chính là tình cảm thương nhớ, lòng kính yêu và biết ơn của người cháu nay đã trưởng thành và đã đi xa:

“Giờ cháu đã đi xa…..

………………nhóm bếp lên chưa?”

Ngươờ cháu năm xưa giờ đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay xa, đã được làm quen với những khung trời rộng lớn, những niềm vui được mở rộng ở chân trời xa. “Có khói………trăm ngả” nhưng vẫn ko thể nguôi quên ngọn lửa của bà, tấm lòng đùm bọc, ấp iu của bà. Ngọn lửa ấy trở thành kỷ niệm ấm lòng, thành niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên suốt đoạn đường dài.

“Bếp lửa” là bài thơ hay và độc đáo. Lời thơ đẹp, chất thơ trong trẻo, trẻ trung; sáng tạo hình ảnh bếp lửa vừa mang ý nghĩa biểu tượgn, kết hợp miêu tả-biểu cảm, tự sự- nghị luận; giọng điệu và thể thơ tám chữ phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm. Bài thơ chứa đựng một triết lí sâu sắc: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức toả sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình dài của cuộc đời. Tình yêu thương và lòng biết ơn bà chính là một bình hiện cụ thể của tình yêu thương, sự gắn bó với gia đình, quê hương và đó cũng là sự khởi đầu của tình yêu con người, tình yêu đất nước.

 

 

3/ Về bài thơ “Đòan thuyền đánh cá” của Huy Cận

Trước đây nữa thế kỉ, khi mới cầm bút, nhà thơ Huy Cận trình làng bài “Tràng giang với khổ thơ đầu rất đặc sắc:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả,

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Giữa cái mênh mông, rộng dài của sông nước, con thuyền và cành củi khô – biểu tượng cho kiếp sống con người – trôi xuôi, bơ vơ, vô định. Trước cái bơ vơ, vô định ấy, thi sĩ đã bâng khuâng thương mình, thương người, muốn chia sẻ tấm lòng “sầu trăm ngả” tới chúng ta. Và, từ đó trở đi, hình tượng thơ: “vũ trụ” và “con người” trở thành một nét rất riêng, rất riêng trong thi pháp Huy Cận.

Và sau đó, từ cái “riêng” ấy, Huy Cận làm cho nó ngày một rõ rệt hơn qua “Đòan thuyền đánh cá”. Cảm hứng của nhà thơ vè thiên nhiên, vũ trụ, về người lao động luôn luôn hài hòa theo 3 nhịp.

Khúc ca khởi hành đc cất lên ở 2 câu thơ đầu:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

Biển hòang hôn – Mặt Trời lặn, như “hòn lửa” bị nhúng nước. Sóng cồn lên, cài chặt then, nhốt ánh sáng vào một vùng tối bí mật. Đêm bao trùm. Khuya. Vũ trụ đẹp huyền bí, mênh mang đầy thử thách. Vậy mà con người – những ngư dân – không ngại ngần, e sợ. Xưa kia, khi đất nước chìm đắm trong bóng đem xâm lược, con người thường rợn người, hãi hùng trước cái bao la rộng lớn của vũ trụ. Ngày nay, đất nước đc giải phóng, con người đc làm chủ, thì vũ trụ, thiên nhiên trở thành nơi vươn tới những ước mơ:

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Hát rằng cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đòan thoi

Đêm ngày dệt biểng muôn luồn sáng

Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi

Nhịp thơ nhanh. mạnh như 1 quyết định dứt khóat. Đòan ngư dân ào xuống, đẩy thuyền ra khơi va cất cao khúc ca khởi hành. Niềm vui và quyết tâm của họ tràn ngập cà không gian, vũ trụ, đánh thức tất cả. Họ gọi cá như bạn bè gọi nhau, họ gọi biển, tiếng gọi vô vàn trìu mến.. Những cánh tay săn chắc cuồn cuộn sức người, sôi nổi hào hứng như trong một trận đấu vậy. Gió khơi, biển cả, nhất là trăng sao – những vùng sáng thay thế Mặt Trời – tất cả đã hiệp đồng để động viên, giúp đỡ con người. Vũ trụ không đối lập mà trở thành bố mẹ, bạ bè thân thương của con người:

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng

Ta đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng

Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhip trăng cao

Biển cho ta cá như lòng mẹ

Nuôi lớn đời ta tự thuở nào.

Dường như công việc lao động giữa biển khơi đầy sóng gió vốn vất vả, đầy thử táhch đã trở thành môt niềm vui, niềm say mê hào hứng. Nhip sống của con người hài hòa với nhau đã tạo cho ngôn ngữ thơ những vẻ đẹp kì diệu, âm hưởng của thơ ngân vang, xáo động, h`ả trog thơ mỗi lúc một lớn lao, bay bổng, ngòi bút tả thực hài hòa với ngòi bút lảng mạn, bút pháp tượng trưng. Tình yêu cuộc sống, yêu biển trời quê hương xứ sở của những người lao động đã đc vũ trụ, thiên nhiên đền đáp xứng đáng:

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông

Lưới xếp buồm căng đón nắng hồng.

Vẩy cá, đuôi cá lóe sắc vàng sắc bạc, hay chính là bạc vàng trong kho trời vô tận thưởng công cho nguồn tài sử dụng ngôn từ, phép liên tưởng, ví von cùg với tình cảm mê say, hào hứng của nhà thơ đã hòa nhập với cuộc sống, đem lại cho nhà thơ cảm thú vị. Nhạc thơ lên đến cao trào.

Và bài ca của đòan ngư dân chuyển dần vào đọan cuối, đọan khải hòan tràn ngập niềm vui chiến thắng:

Câu hát căng buồm với gió khơi

Đàon thuyền chạy đua cùng Mặt Trời

Mặt Trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hòang muôn dặm phơi.

Thi sĩ như người trọng tài đang nhìn đòan thuyền, chuyển sang phía Mặt Trời, rồi từ Mặt Trời nhìn lại. Đội biển nhô cao, Mặt trời tới đích…thì đòan thuyền đã tới lâu rồi! Trang trải mênh mang muôn dặm chỉ thấy cá và cá. Cá nhiều, chen chít nhau, xếp dày, không tách ra đc, chỉ thấy “mắt cá huy hòang” nhấp nháy theo trời, hóa thành triệu bụi màu nhỏ, huy hoàng, ấm áp cả 0 gian. Nghệ thuệt nhân hóa và điểm nhìn linh họat của nhà thơ khiến cho Mặt Trời nơi xa xôi trở nên gần gũi, hiền hòa, và cái chân dung con người bỗng dưng trở nên lớn lao, kì vĩ…

Giờ đây không cần lò nướng bạn cũng có thể làm được món đùi gà nướng tuyệt ngon chỉ với chiếc nồi cơm điện thân thuộc của gia đình mình!

Nguyên liệu:
2 đùi gà to – khoảng 500g
3 cọng hành lá
6 củ hành khô
1 nhánh gừng to, bằm vụn
2 thìa cà phê bột ngũ vị
2 thìa canh nước tương
2 thìa canh mật ong
1 thìa cà phê muối
2 thìa canh dầu ăn
2 thìa cà phê dầu mè.
Bước 1:
Trộn đều nước tương, mật ong và muối, nếm thử xem đã vừa khẩu vị của bạn chưa. Nếu chưa vừa bạn gia giảm thêm cho vừa rồi cho dầu mè, bột ngũ vị và gừng bằm vào, trộn đều.
Bước 2:
Ướp gà với hỗn hợp nước ướp trên trong ít nhất 30 phút.
Bước 3:
Trong khi ướp gà, bạn xắt hành khô thành các lát mỏng, hành lá xắt nhỏ.
Bước 4:
Sau khi ướp với nước tương, dùng dao rạch vài đường phía trên bề mặt đùi gà rồi rắc hành lá và hành khô lên mặt trong của đùi gà, dùng đũa nhét hành vào khe xương để gà đượm mùi thơm của hành hơn.
Bước 5:
Láng đáy nồi cơm điện với 2 thìa canh dầu ăn rồi rải nốt chỗ hành khô, hành hoa còn lại đều khắp đáy nồi. Nếu có nhiều hơn bạn có thể rải kín đáy nồi nhé!
Bước 6:
Cho 2 đùi gà vào nồi cơm điện, mặt có da úp xuống dưới, rưới đều chỗ nước ướp gà còn lại lên trên. Đậy nắp nồi cơm điện và bật nút Cook như khi bạn nấu cơm bình thường. Sau khoảng 20 phút nồi cơm điện sẽ tự bật lên nút Keep warm, bạn để khoảng 10 – 15 phút nữa là được.
Với món này, tốt nhất bạn nên dùng nồi cơm điện loại chống dính tốt để khi lấy gà ra được dễ dàng hơn, da gà không bị dính vào đáy nồi.
Gà nướng bằng nồi cơm điện thơm ngon chẳng kém gì gà nướng bằng lò nướng đâu nhé!
Nếu có một công thức ướp gà nướng nào khác, bạn cũng có thể thử nghiệm với cùng cách nướng này xem sao. Chúc cả nhà một bữa tối thật vui và ngon miệng nhé!
Các bạn có thể lựa chọn một số nồi cơm điện chất lượng cao tại Siêu thị trực tuyếnhttp://muazoo.com

Nồi áp suất tiện lợi cho việc sử dụng, tiết kiệm nhiên liệu, giữ được các chất bổ dưỡng trong thức ăn. Khi sử dụng, phải chú ý kiểm tra lượng thức ăn, các van, nắp để bảo đảm an toàn.

Nồi áp suất là loại nồi nấu có nắp đậy thật kín. Khi nấu, do hơi trong nồi tăng cao nhưng không thoát ra ngoài được nên áp suất tăng lên và kéo theo nhiệt độ trong nồi tăng cao

Nồi áp suất điện cấu tạo giống như nồi cơm điện quai gài có nắp đậy thật kín, công suất điện cao hơn nồi cơm thông thường. Nó được điều khiển bằng điện tử định giờ nấu, cách nấu và nhiệt độ nấu; có loại dùng bộ định giờ timer và các bộ định nhiệt độ. Loại nồi áp suất điện này rất tiện, đẹp nhưng giá cả lại khá cao, chưa được thông dụng lắm.

Tùy theo yêu cầu sử dụng mà bạn có thể chọn loại có dung tích lớn hoặc nhỏ cho phù hợp. Thông thường dùng trong gia đình, ta chọn loại 6 lít hoặc 8 lít. Nắp nồi phải đậy kín không bị cong vênh; roan cao su phải bám sát vào miệng nồi; khi đậy hoặc mở nắp không bị sượng gắt; các van, các xú páp hoạt động tốt không bị nghẹt (nên chọn loại có van an toàn loại ba van, các roan cao su tốt không bị chai giòn). Khi mua nên yêu cầu có roan thay thế và phải có sách hướng dẫn sử dụng vì mỗi loại sẽ có thời gian nấu hơi khác nhau.

Ngoài các loại nồi áp suất cao cấp của Mỹ, của châu Âu thì các loại còn lại chất lượng thường tương đương nên không nhất thiết phải mua loại đắt tiền, trong các loại nồi thì kiểu nắp đậy của Liên Xô là dễ dùng và thông dụng nhất.

Khi sử dụng không nên nấu lượng thực phẩm đầy quá; thực phẩm nấu chừng 2/3 nồi là vừa. Khi nấu hầm đặc thì nên lót vỉ phía dưới để tránh thức ăn dính đáy nồi.

Đậy nắp kỹ, vặn nắp đúng chiều để nắp đóng thật kín, kiểm tra lại các van xem nó có nghẹt không.

Khi đặt lên bếp nấu bằng ngọn lửa lớn, khi thật sôi ta có thể điều chỉnh lửa trở lại. Tùy theo loại thức ăn ta nấu mà có thời gian nấu khác nhau, thông thường nên theo sự hướng dẫn trong sách. Lưu ý thời gian nấu bắt đầu tính từ lúc hơi thoát ra ở van chứ không phải từ lúc bắc lên bếp. Nên dùng một đồng hồ reo để nhắc nhở thời gian nấu (loại đồng hồ lên dây cót).

Sau khi nấu xong bắc xuống chờ cho đến khi hơi thoát ra hết mới được mở nắp, cẩn thận tránh bùng hơi nóng gây bỏng. Không được dùng nước lạnh đổ lên nồi để làm nguội. Sau khi sử dụng chùi rửa sạch sẽ, không dùng giấy nhám hay đá mài làm trầy xước nồi. Nhớ chùi rửa kỹ ở roan cao-su và các van không để thức ăn bám vào đó.

Các bạn có thể lựa chọn một số mẫu tại Siêu thị trực tuyến http://muazoo.com

Nấu xôi bằng nồi cơm điện sẽ tiện và nhanh hơn nấu xôi bằng nồi chỡ. Nhưng nấu sao cho ngon? Có 3 cách rất đơn giản dành cho bạn.

Cách 1: Không ngâm gạo

Đun sẵn nước sôi bên ngoài. Vo gạo sạch, bỏ chút muối vào, đổ nước sôi vào gạo rồi bỏ vào nồi nấu. Điều quan trọng là canh nước. Bạn chỉ đổ thật ít nước. Thường thì nếu nấu khoảng nửa cân gạo, đổ nước cách mặt gạo chừng nửa cm, tức là gần như nước xâm xấp mặt gạo. Nếu nấu nhiều gạo hơn thì mình đổ nước cao hơn mặt gạo một chút so với mức vừa rồi. Gạo nếp chín bằng hơi.

Khi nồi bật lên nấc hâm nóng, tức là nước đã cạn, bạn lấy đũa sơ nhẹ cơm lên cho mặt cơm nếp bên trên và bên dưới được đảo đều.
Để thêm chừng 5-7 phút nữa tuỳ theo cơm nhiều hay ít, bạn rút điện, mở nắp nồi ra cho hơi nóng bay bớt ra và nước trên nắp vung không rỏ xuống cơm. Hạt gạo ráo và mềm, đơm ra đĩa không khác gì xôi đồ bằng chõ.
3 cách nấu xôi ngon bằng nồi cơm điện

Cách 2: Có ngâm gạo

Gạo ngâm khoảng 3 đến 4 tiếng. Để gạo không bị vỡ bạn nên vo gạo trước khi ngâm. Trước khi nấu, bạn nên cho gạo ra rá, tráng qua nước, để khoảng 15 phút cho ráo nước. Sau đó trộn đỗ xanh hay gấc tùy món xôi bạn nấu, cho chút muối cho món xôi thêm đậm đà.

Nếu muốn nấu xôi vào buổi sáng bạn nên ngâm gạo và đỗ xanh từ tối hôm trước. Sáng hôm sau dậy thì đãi sạch hết vỏ đậu , vò sạch gạo nếp và để vào rổ cho ráo nước.

Khi nấu bằng nồi cơm điện bạn cho một chút nước thôi, gạo chỉ sôi một lúc là được. Bạn đừng để gạo sôi lâu quá nó sẽ bị nát. Khi nước cạn bạn thấy gạo chỉ mới chín được 2 đến 3 phần thôi, sau đó bạn sẽ để một chiếc khăn ướt lên trên thì xôi sẽ chín bằng hơi. Khi xôi chín được tám hay chín phần thì bạn đánh lên và cho một ít dầu ăn hoặc mỡ lợn hoặc mỡ gà xuống đáy nồi để chống bị cháy. Nếu vẫn bị cháy thì cũng rất róc và khi ăn thì rất ngon.
Chú ý: Nếu nấu xôi đỗ hoặc lạc thì nên cho lạc đỗ vào đun sôi trước vài phút trước khi cho gạo vào. Nếu nước nhiều quá thì nên múc ra. Gạo ngâm từ trước thì chỉ cho nước bằng gạo thôi, gạo vo xong nấu luôn thì nên cho nhiều hơn một tẹo.

Cách 3: Nước sôi thì rửa gạo

Vo sạch gạo rồi cho vào nồi cơm điện cùng với nước, bật nút như nấu cơm bình thường. Khi nước sôi thì nhấc nồi ra trút gạo vào rá cho ráo. Sau đó đổ lại gạo vào nồi rồi nấu tiếp. Bạn chỉ cần chờ 20 phút là xôi của bạn đã chín. Bạn sẽ được nồi xôi khô ráo và hạt nếp vẫn mềm như nấu bằng chõ đồ.

Chú ý: Gạo nếp không cần ngâm nước và khi gạo đã cho vào nồi nước sôi thì bạn cần canh chừng, nhìn thấy nước trong nồi sôi bùng và đều là phải nhanh tay đổ ra rổ cho ráo nước nếu không thì xôi của bạn sẽ bị nhão.
Bạn đọc có thể chọn lựa một số sản phẩm nồi cơm điện tại Siêu thị trực tuyến http://muazoo.com